Thứ Ba, 28 tháng 7, 2020

Biểu lãi suất Tiền gửi tiết kiệm/Sản phẩm hợp tác kinh doanh tại MBS

Nhóm KH

Kỳ hạn

Từ

Đến dưới

Lãi suất (%)

Lãi suất net (%)

Cá nhân

Từ 1 ngày đến 29 ngày

50 triệu

1 tỷ

2.421

2.3

Cá nhân

Từ 1 ngày đến 29 ngày

1 tỷ

1.000 tỷ

2.421

2.3

Cá nhân

1 tháng

50 triệu

1 tỷ

5.053

4.8

Cá nhân

1 tháng

1 tỷ

1.000 tỷ

5.053

4.8

Cá nhân

2 tháng

50 triệu

1 tỷ

5.263

5

Cá nhân

2 tháng

1 tỷ

1.000 tỷ

5.263

5

Cá nhân

3 tháng

50 triệu

1 tỷ

5.789

5.5

Cá nhân

3 tháng

1 tỷ

1.000 tỷ

5.789

5.5

Cá nhân

4 tháng

50 triệu

1 tỷ

6

5.7

Cá nhân

4 tháng

1 tỷ

1.000 tỷ

6

5.7

Cá nhân

5 tháng

50 triệu

1 tỷ

6.105

5.8

Cá nhân

5 tháng

1 tỷ

1.000 tỷ

6.105

5.8

Cá nhân

6 tháng

50 triệu

1 tỷ

6.632

6.3

Cá nhân

6 tháng

1 tỷ

1.000 tỷ

6.632

6.3

Cá nhân

9 tháng

50 triệu

1 tỷ

7.158

6.8

Cá nhân

9 tháng

1 tỷ

1.000 tỷ

7.158

6.8

Cá nhân

1 năm

50 triệu

1 tỷ

7.789

7.4

Cá nhân

1 năm

1 tỷ

1.000 tỷ

7.789

7.4

Cá nhân

2 năm

1 tỷ

1.000 tỷ

7.579

7.2


Chúng tôi cung cấp mức lãi suất phù hợp và cạnh tranh nhất trong bối cảnh các ngân hàng thương mại thực hiện giảm lãi suất huy động. Nhà đầu tư có thể tham khảo biểu lãi suất tại MBS bên trên và so sánh với mức lãi suất tại ngân hàng VCB theo như bảng bên dưới:


*Thông tin chi tiết vui lòng liên hệ:

PHẠM ĐÌNH KHOA

Chuyên viên CSKH cá nhân cao cấp | Phòng Môi giới 11 – Chi nhánh Hồ Chí Minh

Tầng 5, Tòa nhà Sunny Tower, 259 Trần Hưng Đạo, Quận 1, TP.HCM

M: +84 909 821 301  |  T: +84 28 3920 3388 - Máy lẻ 8533  |  E: khoa.phamdinh@mbs.com.vn  W: https://www.mbs.com.vn


Thứ Sáu, 19 tháng 6, 2020

DGW phù hợp cho nhà đầu tư tăng trưởng

Digiworld (DGW) được thành lập năm 1997, hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực công nghệ (ICT). Năm 2017 DGW bước chân bào ngành Chăm sóc sức khỏe (Healthcare) và ngành Tiêu dùng Nhanh (FMCG). Trong những năm gần đây, DGW bắt đầu theo đuổi chiến lược “Dịch vụ phát triển thị trường” (MES) như một nỗ lực “chinh phục cuộc leo núi mà sẽ chẳng bao giờ dừng lại” như lời ông Đoàn Hồng Việt CEO của DGW từng chia sẻ.

Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp:

Về mảng FMCG và Healthcare, năm 2019 doanh thu mảng này tăng trưởng 231% nhờ hợp đồng đã ký với đối tác Nestlé. DGW hiện đang cho thấy tham vọng ở mảng này khi mở rộng mạng lưới phân phối hiện có và mở rộng sang nhiều sản phẩm trong tương lai bao gồm cả các loại thuốc không kê đơn. Tuy nhiên,  dù được kỳ vọng nhiều trong tương lai khi DGW đạt được nhiều hợp đồng phân phối độc quyền chúng tôi vẫn không đánh giá cao mảng này khi chỉ chiếm 3% doanh thu hiện tại của DGW. Tức là, còn quá sớm để có thể kỳ vọng về mảng FMCG và Healthcare này. Trong khi đó, mô hình MES “Market Expansion Service” lại không thực sự quá mới, và về cơ bản, DGW vẫn sẽ đóng vai  trò như nhà phân phối/nhà bán buôn đưa sản phẩm của nhà sản xuất đến nhà bán lẻ và người tiêu dùng tương tự như cách trước nay DGW trước nay vẫn làm. Chúng tôi cho rằng, động lực chính của DGW trong những năm tới vẫn chỉ xoay quanh ngành thiết bị công nghệ thông tin & truyền thông.

Máy tính xách tay và máy tính bảng, đây là nhóm mặt hàng chiếm tỉ trọng lớn với 35% tổng doanh thu. Đáng chú ý, DGW có lợi thế khá lớn trong mảng này khi chiếm hơn 58% thị phần laptop với những nhãn hàng từ các đối tác truyền thống là Dell, HP, Lenovo, ASUS…

Ngoài ra, mảng điện thoại di động cũng tăng trưởng khá tốt với mức tăng trưởng 65.4% trong năm 2019 so với cùng kỳ 2018 và duy trì mức tăng trước 96% trong QI/2020 so với cùng kỳ QI/2019. Sự tích cực này có sự đóng góp không nhỏ từ Xiaomi khi DGW cung cấp dịch vụ phát triển thị trường độc quyền cho nhãn hàng này. Năm 2020 được dự báo là năm bùng nổ của smartphone có hỗ trợ 5G và số lượng smartphone có hỗ trợ 5G sẽ đạt doanh số 210 triệu chiếc trong năm 2020, gấp 10 lần so với 2019 và một nửa trong số đó sẽ được sản xuất ở Trung Quốc. Xiaomi từng được ví von là Apple của Trung Quốc có lợi thế rất lớn khi là nhãn hàng truyền thống cung cấp smartphone cấu hình cao với giá rẻ và tham vọng “phổ cập smartphone 5G trong tương lai”.

Đối với mảng thiết bị văn phòng, chúng tôi có cái nhìn  khá tích cực khi về dài hạn, ngành hàng này có tính chất ổn định cao và câu chuyện “chuyển đổi số” cũng là một câu chuyện đáng kỳ vọng khi từ năm 2019, Bộ Thông tin và Truyền thông bắt đầu lấy ý kiến bề đề án “Chuyển đối số Quốc gia”. Có lẽ còn quá sớm để kỳ vọng tuy vậy đây là xu hướng chính trong dài hạn.

Trong khi đó, ngắn hạn hơn, một yếu tố may mắn bất ngờ: COVID đang thúc đẩy xu hướng chuyển đổi số này khi nhu cầu làm việc, học tập tại nhà, nhu cầu giao tiếp và giao dịch trực tuyến của cá nhân và doanh nghiệp tăng cao kèm theo đó là nhu cầu sử dụng các sản phẩm ICT được DGW phân phối. Năm 2020, DGW tiếp tục đặt kế hoạch doanh thu và lợi nhuận sau thuế tăng trưởng ở mức cao, lần lượt là 10.200 tỷ đồng, tăng 20% và 202 tỷ đồng, tăng trưởng 25,5% so với thực hiện 2019 bất chấp dịch Covid-19. Chúng tôi cho rằng đây là một “tham vọng có cơ sở” và rất đáng kỳ vọng.

Rủi ro:

Mô hình MES “Market Expansion Service” như đã đề cập ở trên có nhược điểm là phụ thuộc vào nhà sản xuất. Trong trường hợp nhà sản xuất thay đổi chiến lược kinh doanh hoặc tìm được nhà phân phối khác cạnh tranh hơn sẽ gây khó khăn rất lớn lên DGW. (Trường hợp tương tự cũng từng xảy ra khi FPT Trading nay là Synnex FPT, mất quyền phân phối Iphone tại Việt Nam dẫn đến lợi nhuận của đơn vị này sụt giảm đáng kể trong năm 2016 hoặc như trường hợp DGW là việc chấm dứt hợp đồng với Nokia sau sự kiện Microsoft mua lại Nokia và thay đổi chiến lược kinh doanh năm 2015).

Rủi ro cạnh tranh từ các nhà bán lẻ trong ngành phân phối là hiện hữu trong khi rào cản gia nhập ngành cũng không thực sự cao. Có thể thấy, biên lợi nhuận gộp và biên lợi nhuận ròng của DGW là rất thấp, chỉ tương ứng lần lượt là 6,47% và 1,9% so với mặt bằng chung của ngành là 18,63% và 3,45%. Việc các công ty cùng ngành có thể thay đổi chính sách cạnh tranh có thể khiến DGW gặp áp lực.

Thị trường điện thoại di động mà đặc biệt là ở phân khúc phổ thông, tầm trung dù vẫn duy trì tăng trưởng tuy nhiên cạnh tranh khá khốc liệt và đang dần tiến đến điểm bảo hòa. Năm 2020 dưới tác động của dịch COVID-19 thị trường smarphone được dự báo sẽ có sự sụt giảm nhất định và sẽ phải đến năm 2021 mới quay lại tốc độ tăng trưởng như trước.

Nhiều nhà đầu tư đưa ra những kỳ vọng về việc DGW có cơ hội trở thành đơn vị nhập khẩu và phân phối Iphone của Apple. Tuy nhiên chúng tôi không đánh giá cao khả năng này khi hiện tại các chuỗi bán lẻ tại Việt Nam có khá nhiều lựa chọn như nhập khẩu trực tiếp từ Apple Singapore hoặc Apple Việt Nam, đơn vị bán buôn thuộc Apple Operation International, đã được thành lập tại Việt Nam vào năm 2015. Trong khi đó, ở phân khúc điện thoại “thời thượng” hiện nay bị cạnh tranh khá mạnh bởi các mẫu flagship của Samsung và Huawei với nhiều tính năng vượt trội trong khi giá cả lại tốt hơn. Thực tế, lợi nhuận của Apple Việt Nam không lớn, biên lãi  gộp dao động cũng chỉ giao động quanh mức 6%. Tuy vậy nếu kịch bản này xảy ra, chúng tôi cho rằng nó cũng sẽ mang lại uy tín khá lớn cũng như mở rộng thị phần của DGW.

Định giá:

Với mức EPS dựa trên kế hoạch kinh doanh khả thi là 4.697đồng/cp và mức P/E bình quân 5 năm gần nhất là 11 lần, mức P/E bình quân toàn ngành là 9 lần. Mức giá sổ sách DGW ở mức 21.132 đồng/cp tương ứng với mức P/B hiện tại 1,6 lần so với mức P/B bình quân 5 năm gần nhất là 1,5 lần và bình quân toàn ngành là hơn 2 lần. Chúng tôi cho rằng, mức giá hợp lý của DGW rơi vào khoãng 31.698- 36.985 đồng/cổ phiếu.

DGW có thể thấy không còn thực sự quá rẻ trên mức định giá thận trọng của chúng tôi, tuy nhiên dưới góc độ của nhà đầu tư tăng trưởng DGW sẽ khá hấp dẫn khi là một case cổ phiếu tăng trưởng hiếm hoi có được trong bối cảnh thị trường hiện tại: 1. tiềm năng tăng trưởng  vẫn còn khá lớn trong khi 2. mảng kinh doanh hiện tại đang được duy trì đà tăng trưởng tốt. 3. Các chỉ số kinh doanh thể hiện một xu hướng tích cực trong khi đó các chỉ số an toàn vốn vẫn giữ ở mức ổn định và an toàn, thậm chí, thấp hơn rất nhiều so với mặt bằng chung của ngành. Với sự hào phóng nhất định, nhà đầu tư có hơi hướm mạo hiểm một chút có thể kỳ vọng ở mức P/E 11 lần tương ứng 52.000 đồng/cp cho năm 2020.

Trong trường hợp này chúng tôi xin phép đưa ra khuyến nghị: MUA + NẮM giữ, kèm theo lời khuyên phân bổ tỉ trọng vào cân đối nguồn vốn hợp lý và theo dõi sát những yếu tố rủi ro như đã đề cập ở trên.

Thứ Năm, 11 tháng 6, 2020

Những kỳ vọng lạc quan về sự phục hồi của kinh tế toàn cầu đang bị phủ nhận - Thận trọng luôn là điều cần thiết

Trong lần nhận định thị trường gần nhất, broker đã tỏ ra khá thận trọng khi VNINDEX đang giao dịch quanh vùng 790-830. Phải thừa nhận rằng quan điểm thận trọng trên cũng thể hiện phần nào vị thế của những nhà đầu tư ngại rủi ro. Những nhà đầu tư trên có lẽ cũng đã chịu tương đối nhiều áp lực khi 1. Bối cảnh tiền rẻ trong khi các chính sách nới lỏng tiền tệ được các định chế tài chính lớn thúc đẩy2. Tâm lý hưng phấn cùng dòng tiền đầu cơ thúc đẩy chỉ số và cổ phiếu hướng lên một mặt bằng giá cao hơn, phá vỡ các nguyên tắc định giá cơ bản thông thường. (Dòng tiền từ các quỹ đầu cơ ngắn hạn P-notes, các quỹ mô phỏng chỉ số v.v. thường mang tính chất ngắn hạn và khá linh hoạt).

Yếu tố trên đưa nhà đầu tư thận trọng vào tình cảnh: hoặc chấp nhận “mua cao để bán cao hơn” hoặc “đứng ngoài quan sát và chấp nhận đứng ngoài quan sát và bỏ lỡ một số cơ hội để duy trì tính chủ động cho danh mục”. Tương tự hai case cổ phiếu gần nhất mà broker khuyến nghị là HPG (chốt ở 22.200) và KDC (chốt ở 28.000), broker đã tuân thủ hạ tỉ trọng khi đạt đủ kỳ vọng và cân bằng dù sau đó cổ phiếu vẫn hướng lên một mặt bằng giá mới cao hơn.

Đối với các diễn biến của thị trường thế giới, broker đang cho rằng, những chuyển biến gần đây đang thể hiện phần nào những lo ngại của broker khi có xu hướng phủ nhận những kỳ vọng mà hầu hết những nhà đầu tư đang kỳ vọng bao gồm: 1. Nền kinh tế sẽ nhanh chóng hồi phục sau đại dịch2. Các chính sách nới lỏng tiền tệ sẽ phát huy hiệu quả và có thể được duy trì và kéo dài “thời đại tiền rẻ” mà trong đó có thể kể đến một số kết quả mà FED đi đến sau khi nhóm họp hai ngày qua, điều đã khiến những diễn biến trái chiều xảy ra trên thị trường chứng khoán và vàng ngay sau đó:

a) FED giữ nguyên lãi suất đến 2022, dự báo GDP Mỹ năm nay tiếp tục được dự báo ở mức giảm ở mức 6,5%.

b) Tỷ lệ thất nghiệp cuối năm nay được dự báo là 9,3% cao hơn 2% so với năm 2019.

c) Tỷ lệ lạm phát thấp, chỉ là 0,8% so với mục tiêu của ngân hàng trung ương Mỹ và phải đến cuối 2022 mới có thể đạt 1,7%.

d) FED tiếp tục mua khoảng 80 tỷ USD trái phiếu và 40 tỷ USD chứng khoán thế chấp mỗi tháng.

Đối với thị trường chứng khoán Việt Nam, phiên 11/06 có thể gọi là phiên giảm điểm mạnh nhất kể từ khi đáy VNINDEX được tạo lập từ cuối tháng 03/2020. Broker nghiêng về khả năng thị trường đã hoàn thành “sóng hồi” trên cơ sở phân tích kỹ thuật và rủi ro của việc “phân phối đỉnh” sẽ càng rõ ràng hơn khi kênh giá vi phạm vùng giá 865-870. Trong kịch bản này, việc thị trường phân phối có thể khiến nhà đầu tư đánh mất thành quả trong hai tháng vừa qua và do đó sự cẩn trọng là luôn cần thiết.

Với nhà đầu tư mà đặc biệt là nhà đầu tư có chi phí vốn lớn (sử dụng margin, đòn bẩy) đây là giai đoạn hết sức nhạy cảm và việc hạ tỉ trọng là cần thiết để đảm bảo an toàn vốn. Tuy nhiên cẩn trọng không đồng nghĩa với bi quan thái quá, nhà đầu tư có thể chọn điểm bán ở những phiên sau khi thị trường xuất hiện những nhịp hồi để bán ra và giữ tiền mặt. Tránh tâm lý hoảng loạn và bán tháo, và ưu tiên bán những cổ phiếu mang tính chất thị trường và đầu cơ.

Đối với nhà đầu tư đứng ngoài thị trường trong giai đoạn vừa qua, tiếp tục duy trì tỉ lệ tiền mặt cao và chờ đợi điểm mua thích hợp. Tránh việc mua vào hoặc gia tăng tỉ trọng quá sớm để không phải đối diện những áp lực không cần thiết.

Sự thận trọng đôi khi có thể bị coi như là bi quan. Tuy nhiên cũng sẽ không quá khó để nhận ra tính khác biệt của nó nhất là khi "nước xuống". Lúc đó, sự bi quan sẽ đến sau khi sự hoảng loạn trôi qua và mất mát ập tới.

Thứ Năm, 7 tháng 5, 2020

Hãy đề phòng những lời có cánh về một cuộc dịch chuyển có định hướng vào Việt Nam

Trong bối cảnh thị trường đang kỳ vọng lớn về một cuộc tháo chạy của các nhà máy ra khỏi Trung Quốc chuyển sang Việt Nam. Chúng tôi nhận thấy nhà đầu tư bắt đầu vẽ nên một viễn cảnh cho nhóm ngành BĐS Khu Công Nghiệp với không ít màu hồng. Song, chúng tôi cho rằng, hãy kiên nhẫn và tiếp tục quan sát.

Chúng tôi xin dẫn lại bài phỏng vấn Nhà nghiên cứu Nguyễn Trần Bạt trên Trí Thức Trẻ - Chuyên trang của báo điện tử Tổ Quốc - Báo điện tử của Bộ Văn Hóa Thể Thao và Du lịch.
                                                                                                                                                                                                                  Bài thực hiện bởi: Phương Ánh
                                                                                                http://cafefcdn.com/2020/5/6/w09-1588754974226853944050.png

-Đại dịch Covid-19 đã khiến các tập đoàn đa quốc gia lo ngại khi "bỏ trứng vào chiếc giỏ Trung Quốc". Điều này có thể tạo ra cơ hội cho một số quốc gia khác. Ông nghĩ gì về nhận định này?

Tôi có nghe tin một số đối tác sản xuất linh kiện cho Apple bắt đầu rời khỏi Trung Quốc đến Việt Nam và nghe nói rằng đa phần các nhà đầu tư mới đến này muốn chọn miền Bắc vì vị trí địa lý thuận tiện để liên hệ với thị trường Trung Quốc, thị trường mà người ta gắn bó và có doanh số rất lớn ở đó.

Các phán đoán xuất hiện trên báo chí của chúng ta về tương lai của nền kinh tế Trung Quốc về cơ bản là chưa chính xác. Có ý kiến trên báo gần đây nói rằng nếu dịch chuyển Việt Nam ra giữa Thái Bình Dương thì với quy mô kinh tế này, thế giới không ai quan tâm đến chúng ta.

Lợi thế của ta là vị trí địa lý ở phía Nam Trung Quốc và do đó chúng ta cần tận dụng lợi thế ấy. Tôi cho rằng ý kiến này đã đến gần sự chính xác.

Từ lâu tôi vẫn luôn cho rẳng chủ nghĩa dân tộc nếu không kiểm soát được sẽ gây khó khăn cho chúng ta trong quan hệ với nền kinh tế Trung Quốc. Chúng ta cần phân biệt quan hệ với Trung Quốc và quan hệ với nền kinh tế Trung Quốc là hai loại quan hệ khác nhau. Do đó xã hội cần có ý thức chính trị khác nhau đối với từng cặp quan hệ.

Trong một vài bài viết, tôi nhấn mạnh Trung Quốc là nơi "vỗ béo" phần lớn các nền kinh tế trên thế giới, chỉ có chúng ta là không được bao nhiêu do sự cản trở của chủ nghĩa dân tộc về văn hóa và chính trị, trong khi chúng ta chưa có chủ nghĩa dân tộc về kinh tế.

Chủ nghĩa dân tộc về kinh tế chính là bám chặt lấy thị trường Trung Quốc, khôn ngoan tận dụng nó để có thể phát triển được nền kinh tế của mình.

-Tức là thái độ ghét, bài Trung Quốc là không thực dụng lắm?

Không phải thực dụng. Nói thực dụng là người ta hiểu sai. Nói cho đúng là chúng ta phải biết quý các thị trường khác nhau của nền kinh tế Việt Nam, mà Trung Quốc là một thị trường, là nơi chúng ta kiếm tiền.

     http://cafefcdn.com/2020/5/6/w20-15887551576891735338696.png

-Ông suy nghĩ gì trước luồng ý kiến cho rằng các nhà máy của Trung Quốc đang có xu hướng dịch chuyển sang Việt Nam?

Hiện tượng ấy mới diễn ra ở những bước đầu tiên, còn quy mô để xét đến như một luồng dịch chuyển có định hướng kinh tế thì chưa.

Chúng ta biết các nhà máy sản xuất linh kiện điện thoại là những bộ phận của công nghiệp nhẹ, sự dịch chuyển chỉ khó về mặt thị trường chứ không khó về mặt công nghiệp. Còn tất cả các ngành công nghiệp khác thì chưa có biểu hiện gì, chúng ta cần phải kiên trì quan sát.

Trung Quốc cũng chưa chấm dứt dịch bệnh, do đó những ý nghĩ đầy đủ của những ông chủ doanh nghiệp nước ngoài ở Trung Quốc là chưa rõ ràng, dứt khoát. Đây mới là giai đoạn ở giữa sự cân nhắc chứ chưa phải kết thúc sự cân nhắc, cũng chưa đến giai đoạn chuẩn hóa sự cân nhắc kinh tế và công nghiệp của các doanh nghiệp nước ngoài ở Trung Quốc.

-Chúng ta có thể làm gì để quá trình này rõ rệt hơn, khiến cho quyết tâm đến Việt Nam của các nhà sản xuất nước ngoài mạnh mẽ hơn?

Tôi nghĩ Việt Nam là đất nước có Đảng lãnh đạo, có lẽ cần phải có một Nghị quyết phân tích và mô tả đầy đủ các dự báo của Ban Kinh tế Trung ương đối với triển vọng kinh tế hậu dịch bệnh.

Nói gì thì nói, thành tựu mà chúng ta có trong nhiều mặt, đặc biệt là quá trình chống dịch Covid-19 vừa rồi đều có vai trò quan trọng của Đảng. Tôi cho rằng nếu không tính đến vai trò lãnh đạo của Đảng trong tất cả các vấn đề của xã hội Việt Nam thì mọi nghiên cứu đều sai. Ở Việt Nam không có cái gì tự phát cả.

-Nếu nói rằng Việt Nam trở thành một công xưởng mới có thể cạnh tranh được với Trung Quốc thì không đúng. Nhưng liệu chúng ta có thể chen chân vào khâu nào trong chuỗi cung ứng của thế giới hiện nay không? Những công đoạn nào Việt Nam có khả năng thay thế được?

Nếu các doanh nghiệp nước ngoài có chuyển đến Việt Nam hoặc các nước Đông Nam Á khác thì họ cũng phải dựa vào sự phân tích tình thế của Việt Nam sau dịch bệnh.

Sự chống chọi dịch bệnh thành công chỉ góp một phần nho nhỏ vào quá trình chuyển dịch nhà máy. Điểm chính của quá trình vẫn là chọn một điểm đến gần Trung Quốc, tức là sự lệ thuộc vào Trung Quốc của các doanh nghiệp dời đi không chấm dứt.

Nếu nghĩ Việt Nam sẽ thay thế hoặc sẽ làm tốt là chủ quan. Những ông chủ nước ngoài sẽ làm tốt phân tích này. Họ có thể quan tâm Việt Nam như một vị trí địa lý thuận lợi cho quá trình sản xuất của họ. Họ sẽ phân tích xem sự thay đổi vị trí địa lý này có cần thiết không, có mang lại lợi ích không.

Tôi sợ rằng quá trình dịch chuyển ra khỏi Trung Quốc của các xí nghiệp phương Tây có thể sẽ tắt dần chứ không phải mở rộng dần.

-"Tắt dần" là thế nào?

Người Trung Quốc sẽ cải thiện cấu trúc xã hội của họ để hạn chế hiện tượng các doanh nghiệp nước ngoài rời đi.

-Nhưng hiện nay báo chí phương Tây đang phản ánh là các chủ doanh nghiệp Mỹ hay châu Âu đang cảm thấy không an toàn khi không thể xuất hàng về nước. Do dịch bệnh nên Chính phủ Trung Quốc đã ngăn chặn việc xuất khẩu các thiết bị bảo hộ y tế.

Chính phủ Trung Quốc sẽ tự rút kinh nghiệm. Họ cũng quan sát và nhìn thấy được điều này. Thái độ của Chính phủ Trung Quốc sau dịch bệnh là động lực cơ bản tác động đến quá trình các doanh nghiệp nước ngoài chạy khỏi hay tiếp tục ở lại. Tôi không tin người Trung Quốc khờ khạo đến mức tiếp tục duy trì những chính sách tiêu cực để các doanh nghiệp nước ngoài bỏ đi.

-Nhưng trong quá khứ đã có một bài học ở Malaysia. Khi khủng hoảng kinh tế xảy ra, Tổng thống nước này đã quyết định không cho nhà đầu tư rút ngoại tệ để tiền không chảy ra bên ngoài. Từ đấy về sau, Malaysia đã bị đuối trong việc thu hút FDI.

Chính phủ Trung Quốc và Chính phủ Malaysia là hai chính phủ khác nhau với những kinh nghiệm khác nhau. Không thể rút kinh nghiệm từ trường hợp Malaysia để khái quát hóa các vấn đề của Trung Quốc.

Chúng ta ở cạnh một quốc gia cực kỳ thông minh, và do đó phải thông minh theo để đối phó. Tôi có quen biết một số nhà tài phiệt ở Malaysia là người Trung Quốc. Phần lớn những nhà tài phiệt của nền kinh tế Malaysia, Indonesia, Thái Lan đều là người Trung Quốc, ở Việt Nam cũng có.

Cho nên, chúng ta phải phân biệt được người Malaysia gốc nghĩ gì, họ có khả năng vươn đến sự chính xác mà Trung Quốc có hay không? Người Trung Quốc ở Malaysia nghĩ gì, có khả năng giống ý nghĩ của Chính phủ Trung Quốc hay không? Tôi gợi ý những vấn đề này là mong muốn làm thế nào đó để xã hội chúng ta, các cơ sở nghiên cứu của chúng ta chú ý phân tích được.

                                                                                                                                                                         http://cafefcdn.com/2020/5/6/w31-1588755287727502278801.png

-Như ông nói thì trật tự của thế giới trong tương lai có khả năng không xô lệch nhiều sau dịch bệnh, nhưng chắc là vẫn sẽ có những thay đổi?

Thế giới có xô lệch nhưng ở dưới ảnh hưởng của một hệ thống khác, đó là hệ thống tâm lý của các nhà chính trị chiến lược trên thế giới.

Sự xô lệch một cách xã hội học của các nền kinh tế có thể theo thói quen sẽ lắc lư đến một mức nào đó, tuy nhiên, nó không thay đổi ào ạt như báo chí suy đoán. Cần chú ý đến vấn đề là các nhà chính trị chiến lược trên thế giới sẽ có một hệ thống tâm lý khác và nó tác động đến việc hình thành các chính sách đối ngoại của các cường quốc, tạo ra sự thay đổi lớn hơn của cấu trúc kinh tế thế giới sau dịch bệnh.

Cần phải chú ý quan sát tâm lý của các nhà chính trị chiến lược sau: số một vẫn là Tổng thống Trump, số hai là Chủ tịch Tập Cận Bình, số ba là Tổng thống Putin, số bốn là Thủ tướng Abe, số năm là Thủ tướng Merkel, sau đó mới là Tổng thống Pháp, Thủ tướng Anh…

G7 và G20 chính là nhóm các quốc gia có thể góp phần tạo ra thay đổi chiến lược về tâm lý kinh tế và xã hội sau dịch bệnh. Tùy thuộc vào mức độ thiệt hại của kinh tế sau dịch Covid-19 ở các quốc gia này mà tâm lý của các nhà lãnh đạo các quốc gia ấy sẽ thay đổi.

Qua đây tôi muốn gợi ý các cơ sở nghiên cứu kinh tế ở Việt Nam cần phân tích kỹ. Nhân dân cần độ chính xác trong các bình luận, các phân tích khoa học, chứ không cần sự phán đoán có chất lượng "chém gió" đối với các thay đổi chiến lược của thế giới.

-Tức là đến thời điểm hiện tại thì chúng ta cũng chỉ đoán là họ sẽ thay đổi, còn thay đổi như thế nào thì vẫn phải chờ đợi?

Trạng thái phán đoán về hậu quả kinh tế hiện nay là trạng thái không chuyên nghiệp khi tham gia vào nghiên cứu khoa học kinh tế. Chúng ta cứ đoán, chúng ta nói to hơn một tí và hy vọng rằng như thế đủ để tạo ra tên tuổi.

Tôi nghĩ trong một xã hội bình thường thì mọi sự phán đoán đều có địa vị ngang nhau đối với dư luận, nhưng trong tình huống khủng hoảng thì không như vậy. Khủng hoảng sẽ hướng dẫn xã hội đánh giá chất lượng của từng phán đoán một.

Một trong những phán đoán quan trọng là dự báo về sự biến động tâm lý của các nhà chính trị thế giới, qua đó để đánh giá sự biến dạng chính sách đối ngoại của các quốc gia chiến lược. Những thay đổi này sẽ tạo ra cái khung của sự phát triển toàn cầu ở giai đoạn hậu Covid-19.

-Liệu thái độ của phương Tây hay của Mỹ với Trung Quốc thông qua các vấn đề dịch bệnh, có dẫn đến biến chuyển gì lớn không?

Tất cả mọi thông tin đều đáng nghe, nhưng phải thận trọng khi nghe. Chúng ta phải biết rằng người Mỹ bây giờ không ưa Trung Quốc, nhưng người Mỹ không tàn tệ đến mức cắt cầu. Cho nên phải khôn ngoan, đừng ra phố như một kẻ lớ ngớ, ai bảo gì cũng tin. Nhiệm vụ của báo chí là phải giải quyết tâm lý ấy. Báo chí cần phải làm thế nào để người dân mình khôn ngoan trước dư luận và các luồng thông tin quốc tế!

Cảm ơn ông!


15-47-54_nguyen_trn_bt_6
Nguyễn Trần Bạt
- Tốt nghiệp kỹ sư xây dựng cầu đường Đại học Xây dựng
- Cử nhân luật Đại học Quốc gia Hà Nội
1987 - khởi xướng thành lập Văn phòng Xúc tiến các hoạt động sở hữu Công nghiệp Việt Nam, tiền thân của Công ty Sở hữu Công nghiệp INVESTIP thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Thành lập Công ty Tư vấn Đầu tư và Chuyển giao Công Nghệ InvestConsult Ltd, cung cấp dịch vụ tư vấn cho nhà đầu tư nước ngoài



Thứ Tư, 6 tháng 5, 2020

Ghi chú cho năm 2020, năm của những dự án đầu tư công.

Nền kinh tế Việt Nam đã, đang và sẽ bị ảnh hưởng nặng trong năm 2020 do Covid-19. Tăng trưởng GDP quý 1/2020 đạt 3,82%, giảm ½ so với cùng kỳ năm trước (thời điểm quý 1/2019, GDP đạt tốc độ tăng trưởng 6,79%). Các chỉ báo cho thấy nền kinh tế sẽ còn có dấu hiệu sụt giảm nếu như tình hình dịch bệnh tiếp tục căng thẳng. Chính phủ buộc phải kích thích nền kinh tế bằng các chính sách để giải quyết vấn đề trên. Trong đó, bao gồm chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ. Tuy nhiên, thời điểm hiện tại, với thực trạng của nền kinh tế, Chính phủ đang phân bổ tỷ trọng lớn nguồn lực ở chính sách tài khóa, cụ thể là thông qua kênh Đầu tư công.

700.000 tỷ đồng đang chờ giải ngân thúc đẩy đầu tư công. Trong đó, năm 2020, tổng mức đầu tư các dự án triển khai lên đến 112.073 tỉ đồng, Chính phủ đang rất quyết liệt chỉ đạo các cấp, bộ, ngành triển khai nhanh các dự án, cũng như là có các chế tài mạnh nếu như dự án nào chậm tiến độ. Hãy lưu ý đến những cổ phiếu xây dựng hạ tầng và những nhóm ngành vật tư phụ trợ.

Cầu Trần Thị Lý - Chiêm ngưỡng vẻ đẹp "lạ" cây cầu treo dây văng ...