Trong bối cảnh thị trường đang kỳ vọng lớn về một cuộc tháo chạy của các nhà máy ra khỏi Trung Quốc chuyển sang Việt Nam. Chúng tôi nhận thấy nhà đầu tư bắt đầu vẽ nên một viễn cảnh cho nhóm ngành BĐS Khu Công Nghiệp với không ít màu hồng. Song, chúng tôi cho rằng, hãy kiên nhẫn và tiếp tục quan sát.
Chúng tôi xin dẫn lại bài phỏng vấn Nhà nghiên cứu Nguyễn Trần Bạt trên Trí Thức Trẻ - Chuyên trang của báo điện tử Tổ Quốc - Báo điện tử của Bộ Văn Hóa Thể Thao và Du lịch.
Bài thực hiện bởi: Phương Ánh
-Đại dịch Covid-19 đã khiến các tập đoàn đa quốc gia lo ngại
khi "bỏ trứng vào chiếc giỏ Trung Quốc". Điều này có thể tạo ra cơ hội
cho một số quốc gia khác. Ông nghĩ gì về nhận định này?
Tôi
có nghe tin một số đối tác sản xuất linh kiện cho Apple bắt đầu rời
khỏi Trung Quốc đến Việt Nam và nghe nói rằng đa phần các nhà đầu tư mới
đến này muốn chọn miền Bắc vì vị trí địa lý thuận tiện để liên hệ với
thị trường Trung Quốc, thị trường mà người ta gắn bó và có doanh số rất
lớn ở đó.
Các phán đoán xuất hiện trên báo chí của chúng ta về
tương lai của nền kinh tế Trung Quốc về cơ bản là chưa chính xác. Có ý
kiến trên báo gần đây nói rằng nếu dịch chuyển Việt Nam ra giữa Thái
Bình Dương thì với quy mô kinh tế này, thế giới không ai quan tâm đến
chúng ta.
Lợi thế của ta là vị trí địa lý ở phía Nam Trung Quốc và
do đó chúng ta cần tận dụng lợi thế ấy. Tôi cho rằng ý kiến này đã đến
gần sự chính xác.
Từ lâu tôi vẫn luôn cho rẳng chủ nghĩa dân tộc nếu không kiểm soát
được sẽ gây khó khăn cho chúng ta trong quan hệ với nền kinh tế Trung
Quốc. Chúng ta cần phân biệt quan hệ với Trung Quốc và quan hệ với nền
kinh tế Trung Quốc là hai loại quan hệ khác nhau. Do đó xã hội cần có ý
thức chính trị khác nhau đối với từng cặp quan hệ.
Trong một vài
bài viết, tôi nhấn mạnh Trung Quốc là nơi "vỗ béo" phần lớn các nền kinh
tế trên thế giới, chỉ có chúng ta là không được bao nhiêu do sự cản trở
của chủ nghĩa dân tộc về văn hóa và chính trị, trong khi chúng ta chưa
có chủ nghĩa dân tộc về kinh tế.
Chủ nghĩa dân tộc về kinh tế
chính là bám chặt lấy thị trường Trung Quốc, khôn ngoan tận dụng nó để
có thể phát triển được nền kinh tế của mình.
-Tức là thái độ ghét, bài Trung Quốc là không thực dụng lắm?
Không
phải thực dụng. Nói thực dụng là người ta hiểu sai. Nói cho đúng là
chúng ta phải biết quý các thị trường khác nhau của nền kinh tế Việt
Nam, mà Trung Quốc là một thị trường, là nơi chúng ta kiếm tiền.

-Ông suy nghĩ gì trước luồng ý kiến cho rằng các nhà máy của Trung Quốc đang có xu hướng dịch chuyển sang Việt Nam?
Hiện tượng ấy mới diễn ra ở những bước đầu tiên, còn quy mô để xét đến như một luồng dịch chuyển có định hướng kinh tế thì chưa.
Chúng
ta biết các nhà máy sản xuất linh kiện điện thoại là những bộ phận của
công nghiệp nhẹ, sự dịch chuyển chỉ khó về mặt thị trường chứ không khó
về mặt công nghiệp. Còn tất cả các ngành công nghiệp khác thì chưa có
biểu hiện gì, chúng ta cần phải kiên trì quan sát.
Trung Quốc cũng
chưa chấm dứt dịch bệnh, do đó những ý nghĩ đầy đủ của những ông chủ
doanh nghiệp nước ngoài ở Trung Quốc là chưa rõ ràng, dứt khoát. Đây mới
là giai đoạn ở giữa sự cân nhắc chứ chưa phải kết thúc sự cân nhắc,
cũng chưa đến giai đoạn chuẩn hóa sự cân nhắc kinh tế và công nghiệp của
các doanh nghiệp nước ngoài ở Trung Quốc.
-Chúng ta có thể
làm gì để quá trình này rõ rệt hơn, khiến cho quyết tâm đến Việt Nam của
các nhà sản xuất nước ngoài mạnh mẽ hơn?
Tôi nghĩ Việt Nam là đất nước có Đảng lãnh đạo, có lẽ cần phải có một
Nghị quyết phân tích và mô tả đầy đủ các dự báo của Ban Kinh tế Trung
ương đối với triển vọng kinh tế hậu dịch bệnh.
Nói gì thì nói,
thành tựu mà chúng ta có trong nhiều mặt, đặc biệt là quá trình chống
dịch Covid-19 vừa rồi đều có vai trò quan trọng của Đảng. Tôi cho rằng
nếu không tính đến vai trò lãnh đạo của Đảng trong tất cả các vấn đề của
xã hội Việt Nam thì mọi nghiên cứu đều sai. Ở Việt Nam không có cái gì
tự phát cả.
-Nếu nói rằng Việt Nam trở thành một công xưởng
mới có thể cạnh tranh được với Trung Quốc thì không đúng. Nhưng liệu
chúng ta có thể chen chân vào khâu nào trong chuỗi cung ứng của thế giới
hiện nay không? Những công đoạn nào Việt Nam có khả năng thay thế được?
Nếu
các doanh nghiệp nước ngoài có chuyển đến Việt Nam hoặc các nước Đông
Nam Á khác thì họ cũng phải dựa vào sự phân tích tình thế của Việt Nam
sau dịch bệnh.
Sự chống chọi dịch bệnh thành công chỉ góp một phần
nho nhỏ vào quá trình chuyển dịch nhà máy. Điểm chính của quá trình vẫn
là chọn một điểm đến gần Trung Quốc, tức là sự lệ thuộc vào Trung Quốc
của các doanh nghiệp dời đi không chấm dứt.
Nếu nghĩ Việt Nam sẽ
thay thế hoặc sẽ làm tốt là chủ quan. Những ông chủ nước ngoài sẽ làm
tốt phân tích này. Họ có thể quan tâm Việt Nam như một vị trí địa lý
thuận lợi cho quá trình sản xuất của họ. Họ sẽ phân tích xem sự thay đổi
vị trí địa lý này có cần thiết không, có mang lại lợi ích không.
Tôi sợ rằng quá trình dịch chuyển ra khỏi Trung Quốc của các xí nghiệp phương Tây có thể sẽ tắt dần chứ không phải mở rộng dần.
-"Tắt dần" là thế nào?
Người Trung Quốc sẽ cải thiện cấu trúc xã hội của họ để hạn chế hiện tượng các doanh nghiệp nước ngoài rời đi.
-Nhưng
hiện nay báo chí phương Tây đang phản ánh là các chủ doanh nghiệp Mỹ
hay châu Âu đang cảm thấy không an toàn khi không thể xuất hàng về nước.
Do dịch bệnh nên Chính phủ Trung Quốc đã ngăn chặn việc xuất khẩu các
thiết bị bảo hộ y tế.
Chính phủ Trung Quốc sẽ tự rút kinh nghiệm.
Họ cũng quan sát và nhìn thấy được điều này. Thái độ của Chính phủ Trung
Quốc sau dịch bệnh là động lực cơ bản tác động đến quá trình các doanh
nghiệp nước ngoài chạy khỏi hay tiếp tục ở lại. Tôi không tin người
Trung Quốc khờ khạo đến mức tiếp tục duy trì những chính sách tiêu cực
để các doanh nghiệp nước ngoài bỏ đi.
-Nhưng trong quá khứ đã có một bài học ở Malaysia. Khi khủng
hoảng kinh tế xảy ra, Tổng thống nước này đã quyết định không cho nhà
đầu tư rút ngoại tệ để tiền không chảy ra bên ngoài. Từ đấy về sau,
Malaysia đã bị đuối trong việc thu hút FDI.
Chính phủ
Trung Quốc và Chính phủ Malaysia là hai chính phủ khác nhau với những
kinh nghiệm khác nhau. Không thể rút kinh nghiệm từ trường hợp Malaysia
để khái quát hóa các vấn đề của Trung Quốc.
Chúng ta ở cạnh một
quốc gia cực kỳ thông minh, và do đó phải thông minh theo để đối phó.
Tôi có quen biết một số nhà tài phiệt ở Malaysia là người Trung Quốc.
Phần lớn những nhà tài phiệt của nền kinh tế Malaysia, Indonesia, Thái
Lan đều là người Trung Quốc, ở Việt Nam cũng có.
Cho nên, chúng ta
phải phân biệt được người Malaysia gốc nghĩ gì, họ có khả năng vươn đến
sự chính xác mà Trung Quốc có hay không? Người Trung Quốc ở Malaysia
nghĩ gì, có khả năng giống ý nghĩ của Chính phủ Trung Quốc hay không?
Tôi gợi ý những vấn đề này là mong muốn làm thế nào đó để xã hội chúng
ta, các cơ sở nghiên cứu của chúng ta chú ý phân tích được.

-Như ông nói thì trật tự của thế giới trong tương lai có khả
năng không xô lệch nhiều sau dịch bệnh, nhưng chắc là vẫn sẽ có những
thay đổi?
Thế giới có xô lệch nhưng ở dưới ảnh hưởng của
một hệ thống khác, đó là hệ thống tâm lý của các nhà chính trị chiến
lược trên thế giới.
Sự xô lệch một cách xã hội học của các nền
kinh tế có thể theo thói quen sẽ lắc lư đến một mức nào đó, tuy nhiên,
nó không thay đổi ào ạt như báo chí suy đoán. Cần chú ý đến vấn đề là
các nhà chính trị chiến lược trên thế giới sẽ có một hệ thống tâm lý
khác và nó tác động đến việc hình thành các chính sách đối ngoại của các
cường quốc, tạo ra sự thay đổi lớn hơn của cấu trúc kinh tế thế giới
sau dịch bệnh.
Cần phải chú ý quan sát tâm lý của các nhà chính
trị chiến lược sau: số một vẫn là Tổng thống Trump, số hai là Chủ tịch
Tập Cận Bình, số ba là Tổng thống Putin, số bốn là Thủ tướng Abe, số năm
là Thủ tướng Merkel, sau đó mới là Tổng thống Pháp, Thủ tướng Anh…
G7
và G20 chính là nhóm các quốc gia có thể góp phần tạo ra thay đổi chiến
lược về tâm lý kinh tế và xã hội sau dịch bệnh. Tùy thuộc vào mức độ
thiệt hại của kinh tế sau dịch Covid-19 ở các quốc gia này mà tâm lý của
các nhà lãnh đạo các quốc gia ấy sẽ thay đổi.
Qua đây tôi muốn
gợi ý các cơ sở nghiên cứu kinh tế ở Việt Nam cần phân tích kỹ. Nhân dân
cần độ chính xác trong các bình luận, các phân tích khoa học, chứ không
cần sự phán đoán có chất lượng "chém gió" đối với các thay đổi chiến
lược của thế giới.
-Tức là đến thời điểm hiện tại thì chúng ta cũng chỉ đoán là họ sẽ thay đổi, còn thay đổi như thế nào thì vẫn phải chờ đợi?
Trạng
thái phán đoán về hậu quả kinh tế hiện nay là trạng thái không chuyên
nghiệp khi tham gia vào nghiên cứu khoa học kinh tế. Chúng ta cứ đoán,
chúng ta nói to hơn một tí và hy vọng rằng như thế đủ để tạo ra tên
tuổi.
Tôi nghĩ trong một xã hội bình thường thì mọi sự phán đoán
đều có địa vị ngang nhau đối với dư luận, nhưng trong tình huống khủng
hoảng thì không như vậy. Khủng hoảng sẽ hướng dẫn xã hội đánh giá chất
lượng của từng phán đoán một.
Một trong những phán đoán quan trọng
là dự báo về sự biến động tâm lý của các nhà chính trị thế giới, qua đó
để đánh giá sự biến dạng chính sách đối ngoại của các quốc gia chiến
lược. Những thay đổi này sẽ tạo ra cái khung của sự phát triển toàn cầu ở
giai đoạn hậu Covid-19.
-Liệu thái độ của phương Tây hay của Mỹ với Trung Quốc thông qua các vấn đề dịch bệnh, có dẫn đến biến chuyển gì lớn không?
Tất
cả mọi thông tin đều đáng nghe, nhưng phải thận trọng khi nghe. Chúng
ta phải biết rằng người Mỹ bây giờ không ưa Trung Quốc, nhưng người Mỹ
không tàn tệ đến mức cắt cầu. Cho nên phải khôn ngoan, đừng ra phố như
một kẻ lớ ngớ, ai bảo gì cũng tin. Nhiệm vụ của báo chí là phải giải
quyết tâm lý ấy. Báo chí cần phải làm thế nào để người dân mình khôn
ngoan trước dư luận và các luồng thông tin quốc tế!
Cảm ơn ông!
 |
Nguyễn Trần Bạt - Tốt nghiệp kỹ sư xây dựng cầu đường Đại học Xây dựng - Cử nhân luật Đại học Quốc gia Hà Nội 1987 - khởi xướng thành lập Văn phòng Xúc tiến các hoạt động sở hữu Công nghiệp Việt Nam, tiền thân của Công ty Sở hữu Công nghiệp INVESTIP thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam Thành lập Công ty Tư vấn Đầu tư và Chuyển giao Công Nghệ InvestConsult Ltd, cung cấp dịch vụ tư vấn cho nhà đầu tư nước ngoài
|