Thế kỷ XVIII nhà nước Phổ cần nguồn thu từ gỗ và bắt đầu tìm cách khai
thác các khu rừng nguyên sinh tuy vậy họ gặp một vấn đề: chúng vô cùng
hỗn loạn. Nhiều loài cây khác nhau, nhiều độ tuổi khác nhau, khoảng cách
giữa các cây không đều, sự um tùm khó tiếp cận và khai thác, chúng
không tuân theo bất cứ quy luật nào cả. Họ không thể lượng hóa được toàn
bộ khu rừng theo bất cừ tiêu chuẩn kế toán nào hết.
Rất nhanh chóng, các kỹ sư lâm nghiệp đã chặt bỏ những cây cổ thụ, đạt
điều kiện khai thác. Sau đó, trồng lại những cây mới thay thế theo hàng.
Cùng một loài cây, cùng độ tuổi, hàng lối ngay ngắn, thẳng tắp.
Người Đức gọi chúng là Normalbaum: Cây chuẩn lý tưởng, đơn vị tính toán
sản lượng và quy hoạch rừng trong khoa học lâm nghiệp. Một khu rừng giờ
đây được tiêu chuẩn hóa, có thể đếm được, đọc được và hiểu được.
Thế hệ đầu tiên, phương pháp này tỏ ra hiệu quả. Sản lượng ổn định,
doanh thu từ gỗ dồi dào. Nhưng rồi đến những thế hệ kế tiếp, nhưng khu
rừng chết dần. Hệ thống canh tác độc canh không cho phép các khu rừng có
khả năng phục hồi khi thiếu sự đa dạng loài, thiếu cơ chế kiểm soát
dịch bệnh, thiếu đa dạng về độ tuổi khiến quần thể một khi đã suy yếu
không có khả năng tái phát triển, hệ rễ suy yếu, thảm thực vật rừng mất
đi khiến đất đai ngày càng cằn cỗi... Trật tự trong hỗ loạn của rừng già
bị phá vỡ và trở thành thảm họa và những khu rừng khoa học của Phổ sụp
đổ trong vòng 80 năm. Người Đức gọi hiện tượng này là Waldsterben, rừng
chết. [1]
Trong Seeing Like a State, xuất bản năm 1998, James C. Scott gọi đó là
chuẩn "legibility", tính dễ đọc hay dễ hiểu, điều mà các thể chế nắm giữ
quyền lực quốc gia mô hình hóa các yếu tố xã hội phục vụ cho mục đích
quản lý. Không thể cai trị mà không hiểu xã hội. Tuy nhiên, tương tự các
kỹ sư lâm nghiệp Phổ làm cho một thứ trở nên dễ hiểu hơn vẫn không thể
nào khiến họ hiểu được khu rừng. Thực tế có một khoảng cách rất lớn giữ
những nhà Lâm nghiệp so với cây thông Na Uy mà hạ nhìn thấy và còn xa
hơn so với khu rừng nguyên sinh ban đầu. Khoảng cách đó cũng là khoảng
cách giữa người nắm giữ và hoạch định chích sách và người dân của mình.
Ông cho rằng, các công dân hay trong phạm vi khảo sát của ông là các
nông dân có sự liên hệ mật thiết với đất đai, ruộng đồng, sự gắn kết
làng xã tương trợ lẫn nhau là những khu rừng mà mỗi cá thể tìm cách sinh
tồn và duy trì thu nhập ở mức tối thiểu. Những tác động từ chính sách
lên mạng lưới theo cách quy hoạch từ trên xuống, dù là với với mục đích
tốt đẹp đều có rủi ro tác động lên sự tồn tại của từng cá thể và toàn
khu rừng. Nếu như rừng thông Na Uy lụi tàn, thì một quần chúng nông dân
có thể phản kháng theo rất nhiều cách khách nhau và có những cách gây ra
thảm họa. Một vị vua ở kinh thành không thể hiểu rõ ngôi làng cách đó
hàng trăm cây số bằng những bô lão và những lệ làng được đúc kết từ hàng
trăm năm để duy trì trật tự và sinh kế cho từng cá thể. Cũng cần nói
thêm, tính dễ hiểu "legibility" không phải vấn đề, vấn đề nằm ở mô hình
kế hoạch hóa tập trung xung đột với một hệ thống không được nắm bắt đầy
đủ.
Sự phản kháng của công dân có thể rất gần gũi như Trong [The Power of
Everyday Politics, How Vietnamese Peasants Transformed National Policy.”
Ithaca: Cornell University Press 2005], Kerkvliet cho rằng, chính các
nông dân đã làm chính sách tập thể hóa nông nghiệp của Việt Nam sụp đổ.
Chính sách phi tập thể hóa bắt đầu ở cấp độ địa phương ở chính những
người nông dân qua hình thức "khoán chui" trước 1986 hay còn gọi là
khoán hộ, là hình thức giao đất, sản phẩm nông nghiệp trực tiếp đến từng
hộ gia đình xã viên thay vì tập thể. Cuối cùng, khi làm cho cá nhân họ
làm tốt hơn tất cả những gì mà hợp tác xã có thể làm được. Điều này cũng
tương tự cách mà người dân tái lập "kinh tế vỉa hè" sau những đợt càn
quét của chính quyền thành phố. Nhưng đôi khi, sự phản kháng cũng rất
khủng khiếp như phong trào nổi dậy của nông dân Đông Nam Á như Saya San ở
Miến Điện, phong trào chống thuế ở Trung Kỳ và Xô Viết Nghệ Tỉnh ở Nghệ
An.
Ngày nay, xung đột đó vẫn thường xuyên căng thẳng tuy vậy khác với trước
đây nó đang được biện minh bằng sự... phát triển của Quốc gia, một khái
niệm bao gồm hai yếu tố: phát triển & quốc gia. Ở phát triển, mọi
sự đánh đổi quy về tăng trưởng GDP và ở quốc gia, nó đều đỏi hỏi sự hi
sinh của cá thể cho dân tộc. Đây là sự quy giản có phần nguy hiểm.
Thứ Năm, 16 tháng 4, 2026
Đánh đổi để tăng trưởng là đánh đổi điều gì?
Thứ Ba, 24 tháng 3, 2026
Tại sao giá bất động sản tăng không làm giá doanh nghiệp kinh doanh bất động sản tăng?
Tuyên bố trên đúng trong một số trường hợp. Nhưng tất nhiên một bài toán được giải không chỉ cần đúng đáp án, nó còn phải đúng logic để tránh hình thành những bất mãn về sau: Tại sao giá BĐS tăng mà cổ phiếu của tôi phá sản? Việc quy giản triển vọng của doanh nghiệp về giá bán sản phầm là một hành động cực kỳ thiếu cẩn trọng và nguy hiểm đối với nhà đầu tư. Và ở vị thế một người tư vấn đầu tư tài chính, đó là sự vô trách nhiệm.
Đầu tiên, doanh nghiệp là thực thể độc lập so với sản phẩm mà doanh nghiệp đó tạo thành: Một doanh nghiệp kinh doanh thép không phải là thép, một doanh nghiệp kinh doanh sữa không phải là sữa, một doanh nghiệp nuôi heo không phải là heo, doanh nghiệp bất động sản không phải là bất động sản v.v. Doanh nghiệp là một chuỗi các mắc xích bao gồm: Cung cấp sản phẩm dịch vụ, bán hàng, doanh thu, loại trừ chi phí, tạo ra lợi nhuận, tạo ra dòng tiền từ đó thanh toán các nghĩa vụ nợ và cuối cùng mới là giá trị của cổ đông.
Việc cho rằng, giá thành BĐS tăng sẽ gia tăng triển vọng của doanh nghiệp BĐS là một phát biểu thiếu đầy đủ. Vì thực tế giá tăng chưa chắc có doanh thu. Hàng tồn kho tăng giá nhưng chưa cấu thành doanh thu thì vẫn chưa thể là tiền, rủi ro chi phí vốn gia tăng vẫn còn nguyên đó. Nhiều doanh nghiệp ôm "đất vàng" vẫn đối mặt rủi ro phá sản là bình thường, bất chấp thị trường ấm lên.
Đó là về vấn đề chi phí, một vấn đề nữa là lãi vay. Hầu hết các doanh nghiệp BĐS ở Việt Nam là những kẻ tay không bắt giặc. Không khó để kiếm một doanh nghiệp kiểu như vậy với vốn lưu động là 100% hàng tồn kho. Mỗi đồng doanh thu đều bị xâu xé bởi chi phí hữu hình, chi phí ẩn và trái chủ, lợi ích của cổ đông gần như không còn gì. Trong bối cảnh đó những doanh nghiệp này buộc phải phát hành tăng vốn, chuyển đổi nợ thành vốn cổ phần. Cổ đông rơi vào tình thế: Khi thị trường thuận lợi, lợi ích cổ đông thiểu số cực kỳ nhỏ bé, khi sụp đổ rủi ro được san sẻ. Bất chấp giá bán tăng cao, miếng bánh cuối cùng lại rất nhỏ, giá cổ phiếu không thể đuổi theo giá bán sản phẩm được.
Sai lầm cốt lõi nằm ở chỗ nhà đầu tư cổ phiếu mắc sai lầm ở chỗ xem cổ phiếu BĐS là BĐS như ở trên. Khi mua BĐS, bạn sở hữu BĐS và hưởng lợi trực tiếp từ việc BĐS tăng giá. Khi mua cổ phiếu doanh nghiệp kinh doanh BĐS, bạn hưởng phần còn lại sau tất cả các nghĩa vụ của doanh nghiệp. Do đó, cần có nỗ lực trả lời cho bốn câu hỏi sau để bắt tay vào đầu tư một doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp BĐS nói riêng: Doanh nghiệp có bán được hàng không? Khi nào thì thu tiền về? Nợ đáo hạn lúc nào? Các chi phí bao gồm chi phí ẩn như chi phí mua và chuyển đổi đất, chi phí pháp lý kéo dài, chi phí xây dựng, chi phí cơ hội? Doanh nghiệp có đủ "sức khỏe" để cầm cự cho đến khi mùa xuân quay trở lại? Nếu không trả lời được những câu hỏi trên, thì nhà đầu tư rất dễ rơi vào hoạt động đầu cơ theo những diễn ngôn mơ hồ và tự tạo cho bản thân những ảo tưởng. Nói như Nassim Taleb trong Thiên Nga Đen, đó là một dạng của ngụy biện tường thuật, "narrative fallacy", chắp nối những dữ liệu không hoàn chỉnh và thiếu logic thành một câu chuyện mạch lạc và nghe có vẻ hợp lý. Hầu hết chúng ta dễ tin vào một câu chuyện hợp lý hơn là một câu chuyện đúng.
Chủ Nhật, 22 tháng 2, 2026
Thời vận dẫn lối - Lý trí giữ dây cương
Năm 2025, một năm tiền hung hậu cát…
Thị trường chứng khoán năm 2025 chứng kiến pha sụt giảm nghiêm trọng trong bối cánh leo thang căng thẳng thuế quan. Sau năm 2024 hồi phục và giao dịch cầm chừng, các tín hiệu hồi phục tích cực của nền kinh tế phần nào thúc đẩy nhịp tăng giá tích cực đầu năm, tuy vậy, thành quả nhanh chóng bị phủ nhận và đe dọa bởi chính sách thuế quan của Mỹ, tuy vậy thị trường đã sớm phục hồi và đi lên trên cơ sở nỗ lực của chính phủ trong việc thúc đẩy triển vọng nâng hạng của thị trường chứng khoán nói riêng và các chính sách điều hành vĩ mô như chính sách tiền tệ nới lỏng và chính sách tài khóa mở rộng.
Bước vào năm 2026 dương lịch, Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết số 23 về phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 1/2026, trong đó yêu cầu các bộ, ngành, địa phương theo dõi sát diễn biến tình hình, điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, hướng đến mục tiêu tăng trưởng GDP quý I/2026 đạt 8%.
Nghị quyết nêu rõ, thời gian tới, dự báo tình hình thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường; căng thẳng địa chính trị, xung đột quân sự, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn tiếp tục kéo dài; tăng trưởng kinh tế, thương mại, đầu tư toàn cầu chậm, tiềm ẩn nhiều rủi ro...
Đối với nước ta, năm 2026 là năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, phát triển kinh tế - xã hội trong đó có chỉ tiêu tăng trưởng đạt hai con số, vừa tiếp tục sắp xếp tổ chức bộ máy, tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031,...
Vì vậy, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương rà soát kỹ lưỡng các nhiệm vụ trong tháng 2 và quý I năm 2026 để ưu tiên nguồn lực, tập trung chỉ đạo, thực hiện hiệu quả, tạo đà cho những tháng tiếp theo. (Theo Vietnmabiz.vn)
Có thể thấy chúng ta đang đúng trước một năm 2026 nhiều triển vọng với: a) Mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao với các chính sách vĩ mô đi kèm. b) Thị trường chứng khoán tiếp tục duy trì triển vọng từ nâng hạng lên thị trường mới nổi. c) Lợi nhuận doanh nghiệp bước vào hồi phục và mở rộng. d) Định giá nhiều doanh nghiệp vẫn còn rẻ.
Tuy nhiên…
Mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao chưa phải là điều đã xảy ra. Thực tế GDP danh nghĩa không quyết định tất cả. Nhà đầu tư cũng sẽ cần quan sát chặt các yếu tố tác động khác.
Về xuất khẩu, năm 2025 có thể nói là một năm vượt kỳ vọng nhờ hiệu ứng “né thuế” khi nhiều doanh nghiệp tại Hoa Kỳ đẩy mạnh nhập hàng trước “front-loading”. Tuy vậy, năm 2026 yếu tố này sẽ giảm dần và tác động từ thuế quan sẽ rõ ràng hơn. Tuy vậy, nỗ lực đàm phán từ phái Việt Nam là đáng ghi nhận. Ngoài ra, các mặt hàng của Việt Nam có lợi thế cạnh tranh về giá và trong kịch bản thuế quan tiếp tục căng thẳng hiệu ứng “front-loading” có thể tiếp diễn.
Yếu tố tỷ giá vẫn sẽ là yếu tố nhiều bấp bênh khi nội lực của Việt Nam tương đối yếu, dự trữ ngoại hối ở mức thấp và mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế có thể tiếp tục… hy sinh lạm phát. Đây cũng là một yếu tố tạo ra sự phát triển không đồng đều của các thành phần kinh tế mà chúng tôi sẽ có dịp đề cập sau. Tuy nhiên điểm tích cự mà chúng tôi ghi nhận là việc đồng USD tiếp tục có dấu hiệu suy yếu như trong nhiều bản tin mà chúng tôi đã đề cập trong năm. DXY (chỉ số Dollar Index) đã suy yếu kể từ đầu năm 2025, sụt giảm ~12% kể từ đỉnh và giải tỏa áp lực lên tỉ giá USD/VND. Chúng tôi cũng ghi nhận phần nào động thái nới lỏng bảng cân đối kế toán của FED và nhiều khả năng, năm 2026 sẽ là năm FED có những động thái cắt giảm lãi suất mạnh mẽ hơn về cuối năm trong khi tỉ giá USD/VND được chủ động nhích lên trong năm 2026 sẽ giúp chúng ta có nhiều dư địa điều tiết. Nếu không có yếu tố gì bất ngờ, tỉ giá sẽ biến động tăng khống quá 2% trong năm 2026 và thậm chí giảm trong năm mới.
Về lãi suất, chúng ta sẽ bước vào giai đoạn tăng trưởng của thị trường, theo đó, nhu cầu về vốn sẽ tăng lên. Mặt bằng lãi suất thấp những năm sau dịch Covid giúp triển vọng nền kinh tế hồi phục tích cực đồng thời cũng thúc đẩy nhu cầu tín dụng tăng trưởng. Trong khi đó, việc người dân giảm các kênh tiền gửi có hiệu suất kém để vào các kênh đầu tư khác như vàng, chứng khoán, bất động sản, thậm chí là trái phiếu doanh nghiệp, tiền tệ, tài sản số v.v. sẽ khiến vấn đề huy động của các ngân hàng TM sẽ khó khăn hơn. Lãi suất có thể chuyển dần từ nới lỏng sang trung tính trong năm 2026, phù hợp với giai đoạn tăng trưởng của nền kinh tế.
Lạm phát sẽ là yếu tố cần theo dõi sát khi áp lực có thể sẽ còn lớn hơn năm 2025. Thực tế, tốc độ giải ngân đầu tư công trong những năm gần đây khá chậm chạp và đang được đẩy mạnh về cuối năm 2025 đẩy giá nguyên vật liệu trong nước tăng mạnh hơn.
Năm 2026 nhiều yếu tố tác động mà có lẽ chúng ta chưa đánh giá được đầy đủ như vậy chính phủ đẩy mạnh chính sách thuế, chuẩn hóa hóa đơn đầu vào, một số chính sách có thể gây khó khăn cho hộ kinh doanh vừa và nhỏ trong giai đoạn đầu, một số chính sách chống hàng giả, hàng kém chất lượng v.v. cũng có thể khiến tâm lý chi tiêu của người dân thận trọng hơn nhưng cũng đồng thời mở ra nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp đã có vị thế lớn và độ phủ rộng.
Về chính sách tài khóa, đây sẽ là động lực chính trong giai đoạn tăng trưởng tiếp theo, khi chính sách tiền tệ bắt đầu đạt ngưỡng và bắt đầu co hẹp. Tuy vậy đây cũng là yếu tố mà chúng ta cần cân nhắc thận trọng khi các mục tiêu ngắn hạn về tăng trưởng qua con đường này có thể sẽ phải đánh đổi về dài hạn trong kịch bản lạm phát mất kiểm soát, mất cân đối tài sản.
Việt Nam vẫn còn nhiều dư địa nhưng chúng ta cần xét đến thời kỳ dân số vàng bùng nổ đã đi qua, tỉ lệ sinh ở mức thấp, nền tảng tích lũy tư bản còn mỏng. Dư địa về hạ tầng còn lớn tuy vậy CAPEX khổng lồ, thời gian hoàn vốn dài sẽ thành gánh nặng trong tương lai. Ngoài ra một yếu tố mà chúng tôi quên đề cập bên cạnh rủi ro về tỷ giá, lạm phát thì còn có rủi ro về tín dụng BĐS sau khi thị trường BĐS vừa bị siết chặt sẽ gây áp lực nợ xấu lên hệ thống NHTM.
Tổng kết: Năm 2026 sẽ là năm bước ngoặt khi thị trường chứng khoán chứng kiến làn sóng tăng trưởng mới mạnh mẽ hơn. Việt Nam tiếp tục được hưởng lợi nhờ FDI duy trì tích cực, xuất khẩu phục hồi và quy mô đầu tư công gia tăng tuy vậy cơ hội không dành cho tất cả khi thời đại tiền rẻ đã kết thúc. Thị trường bước vào pha chọn lọc chất lượng vì chỉ những doanh nghiệp có nội tại vững vàng mới có thể neo giữ niềm tin cho nhà đầu tư trong bối cảnh lãi suất toàn cầu tuy có nhiều dấu hiệu tích cực nhưng có thể neo lâu hơn dự kiến, các rủi ro địa chính trị vẫn tồn tài và sự chậm trễ trong giải ngân đầu tư công và tín dụng bất động sản vẫn chưa triệt để, đó là chưa kể bóng ma lạm phát và thị trường BĐS trong dài hạn vẫn là câu chuyện sẽ còn tồn tại trong vài năm tới. Các tài sản tín dụng rủi ro của chu kỳ trước khi chưa được giải quyết triệt để có thể quay lại gây áp lực lên hệ thống khi lãi suất chuyển dần sang giai đoạn siết chặt.
Nhắc lại quan điểm về định giá chỉ số thị trường cuối năm 2025. Chỉ số ở mức phù hợp tuy nhiên cổ phiếu thành phần hầu hết ở mặt bằng giá rẻ.
Thị trường kết thúc năm Dương lịch 2025 ở 1,784.49 điểm, tăng hơn 40% so với thời điểm đầu năm. Cùng nhìn lại chặng đường 2025, chúng tôi có một số nhận định sau.
1. Thị trường tăng 40% tức là gấp 2.67 lần đến 3.2 lần so với tốc độ tăng trưởng lợi nhuận sau thuế bền vững của Index từ 12.5%-15% CAGR.
2. P/E hiện tại của Index là 16.5
lần khi bước vào năm 2026, tức là gấp 1.1 lần so với mức tăng trưởng LNST bền vững
và bắt đầu bước vào vùng rủi ro theo quan điểm của chúng tôi là từ 16.5 và cực
đại là từ 20 lần. Tuy nhiên cũng sẽ cần lưu ý, chúng ta đang bước vào giai đoạn
tái định giá khi lợi nhuận QIV của các doanh nghiệp dần công bố, và mức P/E sẽ
được điều chỉnh “kỹ thuật” nhờ tăng trưởng lợi nhuận của các doanh nghiệp, đặc
biệt là các doanh nghiệp top vốn hóa được kỳ vọng có mức tăng trưởng vượt trội
như ngân hàng.
3. P/B của Index hiện đang là 2.1 lần (TCBS), vượt trung vị 5 năm gần đây tương
là 1.8 lần, vẫn cách đỉnh 5 năm là 2.7 lần và đỉnh lịch sử 2017 3.2 lần một khoảng
khá xa. Tuy nhiên vẫn như trên, nhiều cổ phiếu chiếm vốn hóa lớn trên thị trường
như các tập đoàn, tổ chức tài chính, bất động sản đang “over value” khiến mức
bình quân này bị đẩy lên làm tình trạng phân hóa xảy ra. Nhiều cổ phiếu đang dưới
mức bình quân xa trong khi một bộ phận lại quá cao.
Mức trung bình 3 năm gần đây của Index là 1,280 điểm, hiện tại, tại thời điểm
thực hiện nhận định này, chúng ta đang ở 1,816 điểm, một biên độ hơn 40%. Điều
này phần nào đến từ nguyên nhân a. Do sự gia tăng kỳ vọng của thị trường, chấp
nhận trả giá cao hơn cho các doanh nghiệp niêm yết do bối cảnh tiền rẻ (chúng
tôi bỏ ngõ khả năng thị trường đang tồn tại tâm lý đầu cơ quá mức). b. Tăng trưởng
lợi nhuận của doanh nghiệp niêm yết thực sự cao hơn mức lợi suất kép bền vững
mà chúng tôi cho rằng rơi vào 12%-12.5%. Thực tế, nhiều doanh nghiệp đang vượt
khá xa mức này tuy vậy cũng cần lưu ý, nhiều doanh nghiệp lại có dấu hiệu đi về
cuối chu kỳ kinh doanh.
Xét trong bối cảnh hiện tại, nhóm cổ phiếu vốn hóa lớn như VIC, VHM tác động khá lớn lên yếu tố đầu tiên khi từ khóa “cheabol Viet Nam” trở nên phổ biến trong năm 2025 khi nhà đầu tư kỳ vọng về một thời kỳ “vươn mình” với đầu tàu là các tập đoàn kinh tế tư nhân với quy mô lớn, đa ngành và có tầm ảnh hưởng về chính trị. Với quan điểm của chúng tôi, chúng tôi cho rằng sẽ còn quá sớm để có thể kỳ vọng vào điều này và mở rộng định giá của các cổ phiếu theo kỳ vọng trên và tập trung hướng nhà đầu tư vào hoạt động tích lũy danh mục tăng trưởng bền vững và định giá không quá xa mức lợi suất kép bền vững của thị trường, yếu tố số b. hay nói cách khác, một nhóm nhỏ cổ phiếu đang có định giá quá đắt và tiềm ẩn rủi ro và một bộ phận định giá ở mức phù hợp và rẻ hơn. Do đó, xu hướng chung năm 2026, chúng tôi cho rằng sẽ có sự phân hóa cực mạnh đi kèm với rủi ro và cơ hội đều ở mức “cực đại”.
Tại thời điểm hiện tại, sau khi công bố kết quả kinh doanh QIV/2025
Thị trường bắt đầu có sự tái định giá khi các chỉ số P/E và P/B có sự điều chỉnh đáng kể do chất lượng tài sản và lợi nhuận của doanh nghiệp niêm yết cải thiện và đồng thời cũng chứng kiến thị giá điều chỉnh về mức phù hợp hơn trong giai đoạn đầu năm 2026. Từ mức P/E nhạy cảm hơn 16.5 lần có lúc 17.1 lần thì Index đã điều chỉnh về trung vị 14.9 lần. Mức P/B sau nhịp diều chỉnh vừa qua cũng lùi từ 2.3 lần ở đỉnh về ổn định ở 2.1 lần sau kỳ báo cáo tài chính. Trong bối cảnh lợi nhuận các doanh nghiệp niêm yết tăng trưởng tích cực và còn dư địa mở rộng ở phần lớn các phân lớp ngành nằm ngoài nhóm Vin group, được cho là nhân tố tác động lớn nhất lên chỉ số thị trường. Thực tế, nếu loại bỏ tác nhân gây nhiễu này thì thực tế Index đang ở nền rất rẻ với P/E chỉ vỏn vẹn 12.2, rủi ro tương đối thấp. Tóm lại chúng tôi cho rằng định giá ở hầu hết các nhóm ngành phi tài chính đang ở mức giá hời và phù hợp để tích lũy trong trung dài hạn.
Thứ Bảy, 21 tháng 2, 2026
Chúng ta tìm kiếm sự thật hay tìm kiếm sự an tâm?

Thứ Năm, 29 tháng 1, 2026
Đáng sống?
Trong cái gọi là "kỷ nguyên vươn mình" này, không khó để bắt gặp những mục tiêu kiểu biến các đô thị lớn thành nơi đáng sống: "Biến TP. Hồ Chí Minh thành nơi đáng sống, biến Hà Nội thành nơi đáng sống, biến Đà Nẵng thành nơi đáng sống". Cũng không khó để bắt gặp những lời đồng tình kiểu: "Tôi thấy TP. Hồ Chí Minh thật tuyệt vời, rất đáng sống và sẽ còn tuyệt vời hơn trong nhiều năm nữa". Nhưng đáng sống là đáng sống cho ai và đáng sống theo nghĩa nào?
Nếu chỉ là đáng sống xoay quanh tư duy và lối quy hoạch đi theo sau nó, thứ đề cao... cái đẹp, cái luôn là thứ đến sau những nhu cầu cơ bản. Hay nói cách khác, đề cao sự hưởng thụ, đặc quyền của thiểu số. Nó đáng sống cho anh, không phải cho tôi hoặc ngược lại. Ở đó chúng ta sẽ thấy rằng, sự đáng sống không nâng lên để tất cả đều có thể "sống" mà bằng cách di dời những vấn đề của đô thị nói riêng và điều hành xã hội nói chung từ chỗ này qua chỗ khác như cái cách và Napoléon và Haussmann đã làm với Paris: đẹp hơn, sáng hơn, thênh thang hơn và... chia rẽ hơn. Các khu ổ chuột, chợ tự phát, hàng rong... mọi thứ nhếch nhác được đẩy ra ngoại ô để Paris trở thành Kinh đô ánh sáng. Vầng, đẹp và rỗng ruột.
"Tôi mà trúng số, xung quanh tôi sẽ không còn người nghèo, tôi dọn đến khu nhà giàu sống".
